Anda di halaman 1dari 2

Đô thị hóa 1954-1975

Từ năm 1945 đến năm 1954, quá trình đô thị hoá diễn ra chậm, các đô thị không có sự thay
đổi nhiều.
+ Từ năm 1954 đến năm 1975 đô thị phát triển theo hai xu hướng khác nhau: Ớ miền Nam,
Chính quyền Sài Gòn đã dùng “đô thị hoá” như một biện pháp để dồn dân phục vụ chiến
tranh. Ở miền Bắc, đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa trên cơ sở mạng lưới
đô thị đã có. Từ 1965 đến 1972, các đô thị bị chiến tranh phá hoại, quá trình đô thị hoá
chững lại.

Đô thị hóa ở miền Bắc

Sau năm 1954, hòa bình lập lại, số dân lánh nạn ở các vùng nông thôn quy trở về thành phố
làm cho tỷ lệ phát triển dân số đô thị miền Bắc tăng cao. Năm đạt tốc độ đô thị hóa cao nhất là
1960 (129,7%). Tuy nhiên, những năm về sau, mặc dù dân số thành thị vẫn tiếp tục tăng
nhưng tốc độ tăng dân số thành thị miền Bắc lại giảm dần. Tỷ lệ dân số thành thị giảm đi rõ
rệt vào những năm 1965-1970 do chiến tranh phá hoại của Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc.
Sang thời kỳ 1970-1974, tỷ lệ dân số thành thị đã trở lại mức tăng bình thường.

Bảng 2: Tỷ lệ và tốc độ tăng dân số thành thị miền Bắc 1955-1974


Đơn vị: %

Theo cuộc điều tra dân số năm 1974 ở miền Bắc, có 2.590.537 người sống tại các đô thị,
chiếm 11,49% dân số miền Bắc. Một số tỉnh có dân thành thị ở mức tương đối cao như thành
phố Hà Nội (55,89%); Quảng Ninh (32,68%); Hải Phòng (30,05%); Bắc Thái (17,66%); Lai
Châu (16,37%). Các tỉnh còn lại đều dưới 10% trong đó thấp nhất là Thái Bình chỉ có 3,14%.
Việc mở rộng và phát triển một số khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng làm tăng dân số
đô thị ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc như khu gang thép Thái Nguyên, mỏ than Quảnh
Ninh, khu mỏ Apatít Lào Cai…

Đô thị hóa ở miền Nam

Ở miền Nam, giai đoạn trước 1975, mặc dù đang xảy ra chiến tranh nhưng tốc độ đô thị hóa
vẫn ở mức cao
Quá trình đô thị hóa ở miền Nam bắt đầu có sự tăng đột biến từ những năm 1965-1966. Số
dân lánh nạn vào các thành phố do chiến tranh ngày càng tăng. Năm 1971, dân số thành thị đã
chiếm 38% và đạt đỉnh cao vào năm 1974 là 43%. Cũng giống như miền Bắc, dân số thành thị
có tăng, nhưng với tốc độ giảm dần. Tốc độ tăng dân số thành thị ngày càng giảm và mặc dù
năm 1974 là năm có số dân thành thị đạt mức cao nhất nhưng tốc độ tăng lại thấp nhất. Tuy
nhiên, mặc dù tốc độ tăng dân số đô thị của miền Nam ngày càng giảm nhưng so với miền
Bắc thì tốc độ tăng dân số đô thị của miền Nam vấn cao hơn.

Để phục vụ cho chiến tranh, Chính quyền Sài Gòn cũ đã áp dụng chính sách dồn dân dẫn đến
"đô thị hóa cưỡng bức" trong thời kỳ 1965-1969. Hậu quả đã khiến cho khoảng 12 triệu dân
trong tổng số 20 triệu dân ở miền Nam phải rời bỏ quê hương sống bám vào các đô thị. Trong
chiến tranh nhu cầu bảo vệ các khu vực hành chính, các căn cứ quân sự đã tạo nên luồng di
dân cưỡng bức từ nông thôn vào các đô thị. Mặt khác, sự việc trợ của Mỹ đã tạo nên nhiều
nhân khẩu sống bám vào các đô thị để hưởng nguồn viện trọ, đồng thời cũng làm tăng số
lượng người làm các dịch vụ cho quân đội.

Bảng 3: Tỷ lệ dân thành thị ở miền Nam 1959-1974

Bảng 4: Tỷ lệ dân số thành thị tại các vùng miền Nam giai đoạn 1960-1974